Nhà văn Kim Lân – Một tác giả độc đáo và xuất sắc về nông thôn

thumnail-the-gioi-toa-nang-312313

Tôi từng nghe một nhà văn nổi tiếng từ Bỉ nói về đồng nghiệp của mình: Kim Lân là một nhà văn tận tâm với “đất” và “người”, với cuộc sống nông thôn trong sự thuần hậu nguyên thuỷ. Tôi không thể không ngạc nhiên trước lời “truyền thần” của nhà văn Nguyên Hồng! Các sáng tác và quan niệm về văn chương của tác giả đã đánh dấu trong những lần tiếp xúc và ghi lại của tôi, và nó xứng đáng được những người sau này suy ngẫm.

Chất liệu sống từ bản thân, gia đình và quê hương

Giống như Đoàn Chuẩn trong âm nhạc, Kim Lân ít khi viết, nhưng mỗi truyện ngắn của ông lại ghi dấu sâu trong lòng người đọc. Ngày 1-8-2016, chúng ta đã kỷ niệm sinh nhật lần thứ 95 của nhà văn Kim Lân, một tài năng của làng Chợ Giàu thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Từ khoảng năm 1940, ông đã có truyện ngắn đầu tiên đăng trên tờ Trung Bắc Chủ nhật với tên gọi “Đứa con người vợ lẽ”. Kể từ đó, các truyện của Kim Lân đã xuất hiện đều đặn trên tuần báo này và tờ Tiểu thuyết thứ bảy, với các đề tài chủ yếu xoay quanh thú chơi tiêu khiển như gà chọi, chó săn, chim bồ câu và các sinh hoạt văn hóa truyền thống ở thôn quê. Nhân vật trong những truyện ngắn đầu tiên của Kim Lân thường nói về bản thân và gia đình mình. Nhà văn đã thổ lộ với chúng tôi: “Truyện Làngtôi viết về làng Chợ Giàu, nhưng chẳng có ai là Lão Hai cả. Lão Hai chính là tôi. Viết đi viết lại, cuối cùng câu chuyện cũng là mình. Khỉ thế! Tình cảm, lời ăn tiếng nói, tính nết, cách xử sự đời sống của nhân vật, tất cả đều là mình”.

Ngay từ truyện ngắn đầu tiên “Đứa con người vợ lẽ”, nhà văn Kim Lân đã phản ánh nỗi cực khổ của mẹ con ông. Khi truyện được in đăng, ông anh của ông, ông Cả (con bà Cả), đã đọc và truy cứu Kim Lân về việc viết về những điều này. Nhà văn nhớ lại: “Mẹ tôi là vợ ba của bố tôi, lại là dân ngụ cư quê gốc ở Kiến An, Hải Phòng làm thợ cấy phiêu bạt khắp nơi. Mẹ bị gia đình chồng coi thường. Mẹ phải hầu hạ như một vú em trong nhà. Không ai xem mẹ là vợ của bố cả! Những người anh của bố tôi đều gọi mẹ tôi là “chị Tam”. Hồi nhỏ, tôi cứ nghĩ Tam là tên thật của mẹ, chứ không hề biết mẹ tôi là bà Ba. Sau Cách mạng tháng Tám, tôi mới biết mẹ tên là Náng, còn dì tôi tên Mủng. Dì Mủng cũng chính là nhân vật dì Hân trong truyện Người chú dượngcủa tôi. Tam, Náng, Mủng – chỉ là những cái tên thôi, nhưng vẫn thấy sự thấp hèn, trôi nổi của dân ngụ cư lúc đó”.

Nhà văn Kim Lân đã thành công trong việc khắc hoạ hình ảnh người phụ nữ với những tính cách và số phận điển hình trong những hoàn cảnh điển hình. Điều thú vị là trong số những hình tượng phụ nữ mà ông đã xây dựng thành công, nguyên mẫu chủ yếu đến từ những người thân của ông. Trong truyện ngắn tiêu biểu nhất của Kim Lân, “Vợ nhặt”, nhân vật bà cụ Tứ thực chất là hình ảnh của mẹ ông. Còn người vợ trong truyện cũng có nguyên mẫu chủ yếu từ vợ ông, nhưng chỉ giống với hoàn cảnh còn vợ ông thực tế đã được cưới hợp pháp, chứ không phải… vợ nhặt!

Nhà văn Kim Lân cho biết, khi còn trẻ, ông sống trong một gia đình nghèo ở một làng giàu có, ông lại gầy gò xấu xí, nên dù mê nhiều cô gái nhưng ông không dám bày tỏ. Ông lánh xa vẻ đẹp, vì ông luôn mắc cảm giác tự ti, cơ hội gặp gỡ cô gái đẹp. Kim Lân thường ghé thăm ngôi nhà của người bạn thân Nguyễn Đăng Bảy, một người cũng thích nghệ thuật ở làng Chợ Giàu và đã trở thành một trong những người sáng lập xưởng phim truyện Việt Nam đầu tiên, và nhận được danh hiệu nghệ sĩ Nhân dân. Em gái ruột của Nguyễn Đăng Bảy là một cô gái xinh đẹp, và Kim Lân đã thích cô nhưng không dám tỏ tình. May mắn thay, ông nhớ lại: “Cô ấy cũng thích tôi, nên anh Bảy đã “giúp” chúng tôi. Chúng tôi đã kết hôn. Nhưng tôi phải mất gần bốn năm mới cưới được cô. Cô ấy đã giúp tôi rất nhiều. Cô ấy cũng là con nhà nghèo, nghèo lắm, nên dễ thông cảm. Tôi đi kháng chiến, viết văn, còn chuyện gia đình thì phó thác cho cô ấy. Cô ấy đã làm đủ công việc, từ buôn bán hàng rong cho đến may vá, bán nước kiếm tiền để nuôi chồng và con cái. Chúng tôi có bảy đứa con, mà tất cả đều là họa sĩ. Tôi nhận thấy rằng vợ của các nhà văn đều tốt và rất yêu chồng. Ví dụ như bà Nguyên Hồng, bà Nguyễn Tuân, đặc biệt là bà Tuân”.

Sáng tạo trên cơ sở hiện thực cuộc sống

Đối với nhà văn Kim Lân, cách mạng không chỉ mang đến sự thay đổi trong cuộc sống cá nhân và gia đình, mà còn thay đổi cách ông viết. Khi tham gia vào hoạt động văn hóa cứu quốc, ông đã gặp gỡ và trao đổi với các nhà văn như Nguyên Hồng, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài,… Từ đó, phong cách viết của nhà văn Kim Lân đã thay đổi, như ông nói: “Trình độ một người quê viết theo bản năng, cảm tính mới dần dần thấy được công việc thực sự của người viết chuyên nghiệp”. Ông cũng rút ra bài học rằng: “Theo kinh nghiệm của tôi, những câu chuyện thực mà tôi ghi lại thường nhạt nhẽo và khô cứng. Tuy nhiên, sự thật vẫn có giá trị, rất quan trọng. Tất cả những truyện Vợ nhặt, Ông lão hàng xóm, Con chó xấu xí đều dựa trên sự thật. Còn những truyện khác, kể cả Làng, hầu hết là tôi bịa. Tạo ra cả nhân vật lẫn tình tiết. Vì không có sự thật như vậy. Nhưng cái bịa đó là cái điều mà tác giả muốn nói. Và chính tác giả muốn nói nên mới sinh ra cái bịa. Gọi là bịa nhưng thực chất là sáng tạo”.

Cái bịa hay sáng tạo trong tác phẩm văn học đôi khi lại trở nên thực, thậm chí còn thực hơn cả đời thường. Điều này chính là điểm mấu chốt thể hiện tài năng của nhà văn. Kim Lân giải thích: “Vì sao phải bịa? Người viết muốn truyền đạt một điều gì đó, một ý nghĩ gì đó mà cuộc sống hàng ngày không thể tỏ thái độ của nó, chỉ có sự bịa mới thể hiện được. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tách rời xã hội, tách rời cuộc sống, thực tế là nó thực hơn. Chính vì thế, tôi thường nói rằng cái bịa lại thực hơn. Vì nó thực với chính mình trước tiên. Và kỳ lạ là khi mình bịa, mình viết say sưa hơn nhiều. Khi tôi say sưa bịa, có phải đó là những khoảnh khắc thăng hoa nhất của người viết không?”.

Một điều mà nhà văn Kim Lân suy ngẫm khi trò chuyện với chúng tôi, đó là trong suốt mấy chục năm, nhiều nhà văn thường viết theo xu hướng thời sự, về chính sách hoặc cuộc chiến đấu nhằm ủng hộ cho chính sách hoặc cuộc chiến đấu đó. Nếu so sánh với hàng ngàn năm lịch sử dân tộc trước đó chỉ có một số ít bài thơ yêu nước và tinh thần chiến đấu chống ngoại xâm của Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Đình Chiểu,… thì trong khoảng nửa sau thế kỷ XX, văn học Việt Nam đã có một loạt tác phẩm viết về đề tài này. Nhà văn Kim Lân cho biết: “Đối với tôi, kháng chiến và mọi chính sách chỉ nên được coi là cơ sở của con người đang sống. Con người vẫn luôn quan trọng. Ngòi bút của tôi hướng về cuộc sống hàng ngày, về mối quan hệ gia đình, về con cái. Qua đó, tôi cũng có thể thấy được tác động của chính sách hoặc cuộc chiến đấu đối với cuộc sống”.

Từ quan niệm như trên, nhà văn Kim Lân cho rằng không thích việc sử dụng lý lẽ trong việc viết về những vấn đề thời sự, một căn bệnh mà một số nhà văn đã từng mắc phải. Ông nói: “Dùng lý lẽ để thuyết phục trong văn chương cũng là một thứ cưỡng chế. Những lý lẽ mê tín đó thường làm người ta không còn chính mình. Nói một cách khác, người viết phải viết như chơi, viết thoải mái bằng tấm lòng của mình, hướng đến cái thật, cái đẹp, giúp con người sống thật, sống đẹp với nhau. Và khi nhà văn gặp phải điều gì không đúng, không đẹp, ông phải dám lên tiếng”.

Ngẫm cười tai nạn văn chương

Vào năm 1958, nhà văn Kim Lân đã viết truyện ngắn “Ông lão hàng xóm” để nói về những sai lầm trong việc cải cách ruộng đất. Với khả năng hiểu sâu sắc về vấn đề này, ông đã quyết định thể hiện thông qua văn học. Ông cho biết: “Tôi viết về sự thật đó, nhưng khác với những người khác. Người ta viết với lòng ghét bỏ, chế nhạo những sai lầm, còn tôi thể hiện sự đau đớn! Vì vành mắt sai lầm đó là của Đảng mình. Tôi viết với tinh thần sửa đổi chứ không có ý định trả thù. Khi tôi vừa tung ra truyện “Ông lão hàng xóm”, tự nhiên có khá nhiều ánh mắt giận dữ, coi tôi như một người không đáng tin cậy, thậm chí coi tôi như một kẻ chống đối chế độ”.

Cùng với truyện ngắn “Ông lão hàng xóm” của nhà văn Kim Lân, hai nhà văn khác là Nguyễn Huy Tưởng và Đoàn Giỏi cũng đã viết các tác phẩm bị chỉ trích gay gắt. Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã viết truyện ngắn “Một ngày chủ nhật”, tái hiện hình ảnh một ngày chủ nhật đi dạo hồ Gươm, nhìn thấy mọi thứ tràn ngập rác thải do thiếu ý thức của con người. Nhà văn Đoàn Giỏi viết truyện “Thao thức”, thể hiện tình cảm của người Nam tiếc nuối về quê hương đang bị chia cắt. Thực tế, dù nhìn vào bề ngoài có vẻ bình thường, nhưng thời điểm đó lại bất thường và bị giới phê bình văn học chỉ trích mạnh mẽ. Kim Lân nhớ lại với vui mừng: “Cả ba đều bị chỉ trích đến cùng. Vì vậy, tôi đã viết một câu hỏi để thách thức ai đó: Một ngày chủ nhật, ông lão hàng xóm, thao thức. Tưởng, Kim Lân, Giỏi. Như vậy, chúng ta đều biết những người phê bình đã đối xử với chúng tôi như thế nào”.

Trong cuộc trò chuyện với chúng tôi, nhà văn Kim Lân luôn nhắc đến thế hệ nhà văn tinh hoa như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân,…, những người đã viết nhiều tác phẩm xuất sắc dưới áp lực của cơ chế thị trường. Tác giả của “Vợ nhặt” nói: “Nếu chính bản thân họ không vượt qua cơ chế thị trường, sẽ là điều gì? Cơ chế thị trường không phá hủy nhà văn. Vấn đề là bạn có tài hay không. Những người viết văn để bán, nuôi bản thân và gia đình. Nhưng những tác phẩm của họ vẫn rất hay. Và càng hay, càng bán được. Bởi vì độc giả chấp nhận, họ sẵn lòng chi tiền mua. Tất nhiên, cũng phải loại trừ những tác phẩm… mì ăn liền mà độc giả chóng ngán và quên đi. Tuy nhiên, hiện nay, sau khi loại bỏ quyết liệt cơ chế thị trường, mọi thứ trở nên mơ hồ hơn. Một chút vấn đề xuất hiện là đổ tại cơ chế thị trường. Nhiều tác giả đã bán linh hồn của họ cho tiền. Không được, dù cơ chế thế nào đi nữa, nhà văn cũng phải có vai trò, có nhận thức về vai trò của mình”.

Kết luận

Nhà văn Kim Lân đã để lại một di sản đáng kinh ngạc trong văn chương Việt Nam. Các tác phẩm của ông không chỉ là những câu chuyện độc đáo và tuyệt vời về cuộc sống nông thôn, mà còn là những truyền cảm hứng sâu sắc và triết lý nhân sinh. Với sự tận tâm và niềm đam mê của mình, ông đã khắc họa một cách chân thực và sáng tạo cảnh đời người dân Việt Nam. Nhưng điều quan trọng nhất là, nhà văn Kim Lân đã truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ tác giả tiếp nối, và tác phẩm của ông sẽ tiếp tục tỏa sáng trong lòng độc giả Việt Nam.